ĐỂ CÂY NGÔ SINH KHỐI ĐI ĐƯỢC “ĐƯỜNG DÀI”

Thứ hai - 05/10/2026 04:13
Từ nhiều năm nay, sản xuất vụ hè-thu luôn là “bài toán khó” khi hàng nghìn héc ta đất lúa phải bỏ hoang do sản xuất kém hiệu quả hoặc thiếu nước tưới. Tại một số địa phương, việc đưa cây ngô sinh khối vào sản xuất bước đầu cho thấy những tín hiệu tích cực, mở ra hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong vụ hè-thu. Tuy nhiên, để cây ngô sinh khối có thể đi được “đường dài”, phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, việc lựa chọn diện tích phù hợp, tổ chức vùng sản xuất tập trung và gắn sản xuất với nhu cầu tiêu thụ cần được tính toán ngay từ đầu.
Mô hình trồng ngô sinh khổi trên đất lúa chuyển đổi tại xã Trường Ninh
Mô hình trồng ngô sinh khổi trên đất lúa chuyển đổi tại xã Trường Ninh
Tiềm năng ngô sinh khối trên đất lúa kém hiệu quả
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, vụ hè-thu 2026, toàn tỉnh có 9.454 ha đất lúa không tổ chức sản xuất; trong đó 8.251 ha không đủ điều kiện sản xuất do thiếu nguồn nước, 1.203 ha còn lại có thể sản xuất nhưng phụ thuộc thời tiết hoặc nguồn nước không chủ động, hiệu quả kinh tế thấp. Trong khi đó, diện tích đất lúa được chuyển đổi sang cây trồng khác trong năm mới đạt 250 ha.
Từ thực tế này, vụ hè-thu 2026, Trung tâm Khuyến nông triển khai mô hình “Chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả sang trồng ngô sinh khối gắn với liên kết, tiêu thụ sản phẩm” tại các xã Trường Ninh, Trường Phú và Phong Nha, với tổng diện tích 34 ha, 85 hộ tham gia. Toàn bộ diện tích được liên kết tiêu thụ với Công ty Cổ phần Chăn nuôi Dương Gia Quảng Bình theo hợp đồng, giá thu mua tối thiểu 1.080 đồng/kg tại ruộng và 1.600 đồng/kg tại nhà máy.
Tại xã Trường Ninh, Hợp tác xã Sản xuất kinh doanh dịch vụ nông nghiệp Vạn Phúc (HTX Vạn Phúc) thực hiện chuyển đổi 10 ha đất lúa không chủ động nguồn nước hoặc sản xuất kém hiệu quả trong vụ HèThu sang trồng ngô sinh khối. Đây là vụ đầu tiên HTX thực hiện chuyển đổi cây trồng trên diện tích này. Ông Nguyễn Đình Thành, Giám đốc HTX Vạn Phúc cho biết, ngay sau gieo, mô hình gặp thời tiết bất lợi. Có thời điểm hơn 35 ngày liên tục không có mưa, nắng nóng kéo dài khiến một số diện tích bị ảnh hưởng ở giai đoạn cây con. Sau khi được trồng dặm, bổ sung nước và có mưa, cây ngô tiếp tục phục hồi, sinh trưởng khá tốt, tỷ lệ mọc đạt trên 90%.
Theo hạch toán, trên những chân ruộng đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, năng suất sinh khối của mô hình đạt khoảng 40-45 tấn/ha. Với năng suất 45 tấn/ha, giá bán 1.600 đồng/kg tại nhà máy, tổng thu đạt 72 triệu đồng/ha; trừ chi phí sản xuất và vận chuyển khoảng 58,5 triệu đồng/ha, lợi nhuận đạt gần 13,5 triệu đồng/ha. Mức lợi nhuận có sự chênh lệch giữa các chân ruộng, phụ thuộc vào khả năng giữ ẩm, tiêu thoát nước và điều kiện đưa máy móc vào sản xuất.
Ông Phan Ngọc Đồng, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông cho biết, không phải diện tích đất lúa kém hiệu quả nào cũng phù hợp để trồng ngô sinh khối. Mặc dù cây ngô có khả năng chịu hạn nhất định nhưng vẫn cần chân đất phù hợp, có nguồn nước bổ sung kịp thời, không bị ngập úng và có khả năng tiêu thoát nước tốt khi gặp mưa lớn, nhất là trong giai đoạn cây con.
Thực tế triển khai mô hình cho thấy, một số diện tích nằm ở chân ruộng thấp, dễ đọng nước khi có mưa khiến cây ngô sinh trưởng kém. Khoảng thời gian ngắn giữa hai vụ cũng khiến rơm rạ sau vụ lúa chưa kịp phân hủy hoàn toàn, gây khó khăn cho khâu làm đất và đưa máy móc vào sản xuất. Bên cạnh đó, quy mô và mức độ tập trung của diện tích, cùng với điều kiện giao thông nội đồng, cũng là những yếu tố cần được tính toán. Những thửa ruộng nhỏ lẻ, phân tán sẽ khó đưa máy móc vào đồng loạt, đồng thời làm tăng thời gian, nhân công và chi phí thu hoạch, vận chuyển, qua đó ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất.
Để phát triển thành vùng sản xuất hàng hóa
Quá trình triển khai mô hình, phương án thu mua giữa HTX, hộ dân và doanh nghiệp đã được thống nhất trước thời điểm thu hoạch. Tuy nhiên, khi đi vào thực tế, nhiều yêu cầu phát sinh liên quan đến máy móc, nhân lực, tập kết và vận chuyển sản phẩm.
Tại HTX Vạn Phúc, xã Trường Ninh, quá trình thu hoạch ghi nhận tỷ lệ hao hụt sản lượng gần 25%. Giám đốc HTX Vạn Phúc Nguyễn Đình Thành cho biết, mặc dù vùng sản xuất đã được quy hoạch tập trung nhưng diện tích canh tác của các hộ vẫn còn nhỏ lẻ, sản lượng từng hộ không đủ một chuyến xe nên phải cân tại ruộng, sau đó tập kết và chờ ghép chuyến. Trong điều kiện nắng nóng, gió Lào, cây ngô sau khi cắt nhanh bị héo, mất nước, dẫn đến giảm khối lượng.
Ở khâu bốc xếp, diện tích sản xuất phân tán cũng phát sinh những tình huống chưa thuận lợi. Có thời điểm xảy ra tình trạng “ngô chờ máy, máy chờ xe”; hoặc do chỉ có một máy gắp chuyên dụng nên phải thuê thêm máy gắp keo tràm để bốc ngô, khiến thời gian thu gom kéo dài.
Bên cạnh đó, giao thông nội đồng tại một số khu vực chưa đáp ứng yêu cầu vận chuyển. Những chân ruộng thấp, sau mưa dễ đọng nước khiến phương tiện khó tiếp cận; xe trọng tải lớn không thể vào trực tiếp bờ ruộng mà phải trung chuyển bằng phương tiện nhỏ hơn, làm phát sinh thêm chi phí. Trong khi đó, ngô sinh khối sau khi cắt cần được vận chuyển và tiếp nhận trong khoảng thời gian phù hợp để hạn chế hao hụt và bảo đảm chất lượng nguyên liệu.
Từ thực tế triển khai cho thấy, việc mở rộng vùng nguyên liệu ngô sinh khối không chỉ phụ thuộc vào năng suất hay giá thu mua mà còn đặt ra yêu cầu cao về tổ chức sản xuất, thu hoạch và vận chuyển. Khi diện tích được tập trung, HTX sẽ thuận lợi hơn trong điều phối thời vụ và tổ chức thu hoạch; doanh nghiệp chủ động hơn trong bố trí máy móc, phương tiện và kế hoạch tiếp nhận; người dân có điều kiện sản xuất theo cùng quy trình, qua đó việc thu gom, vận chuyển cũng thuận lợi và hiệu quả hơn.
Hiện đã có 17 xã, phường đăng ký trồng ngô sinh khối vụ hè-thu 2027 với tổng diện tích dự kiến khoảng 346 ha. Trong đó, xã Phong Nha đăng ký 60 ha, Bố Trạch 50 ha, Trường Ninh 40 ha, Tân Mỹ 30,2 ha, Lệ Ninh 30 ha, Trường Sơn 29,3 ha...
Theo ông Phan Ngọc Đồng, việc nhân rộng mô hình trồng ngô sinh khối cần được thực hiện theo hướng có lựa chọn, có quy hoạch vùng nguyên liệu và gắn với chuỗi liên kết ngay từ đầu. Giao thông nội đồng phải đáp ứng yêu cầu để xe có trọng tải phù hợp tiếp cận được bờ ruộng; đồng thời phải có doanh nghiệp liên kết và phương án cơ giới hóa, thu hoạch, bốc xếp, vận chuyển được tính toán đồng bộ ngay từ đầu vụ.
“Các địa phương cần xác định rõ những diện tích có khả năng chuyển đổi sang trồng ngô sinh khối, đồng thời chỉ mở rộng khi bảo đảm các yêu cầu về chân đất, nguồn nước, quy mô vùng sản xuất, khả năng cơ giới hóa, giao thông nội đồng và phương án thu hoạch, vận chuyển, tiêu thụ sản phẩm”, ông Đồng nhấn mạnh.
Theo ông Đồng, khi xem xét nhân rộng, cần đặc biệt quan tâm đến chất lượng vùng nguyên liệu và khả năng tổ chức chuỗi liên kết. Không nên mở rộng diện tích khi chưa bảo đảm các điều kiện cần thiết về thu hoạch, vận chuyển và tiêu thụ. Đây là những yếu tố quyết định việc ngô sinh khối có thể phát triển từ một mô hình chuyển đổi cây trồng thành vùng sản xuất hàng hóa ổn định, hiệu quả và có khả năng duy trì lâu dài.

Tác giả: Nguyễn Ngọc Lan

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây