Ngô sinh khối là cây trồng có nhiều ưu điểm như thời gian sinh trưởng ngắn, khả năng thích nghi rộng, dễ canh tác, chịu hạn khá, ít sâu bệnh, cho năng suất sinh khối cao và được thị trường tiêu thụ ổn định thông qua các cơ sở chăn nuôi, trang trại và doanh nghiệp chế biến thức ăn gia súc. Việc trồng ngô sinh khối trên đất lúa, nhất là các diện tích sản xuất lúa không hiệu quả hoặc trong các vụ thiếu nước, là một hướng đi phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng thu nhập cho người dân và góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng bền vững.
1. Một số điểm lưu ý khi trồng ngô sinh khối trên đất lúa chuyển đổi
- Phải có hệ thống mương rãnh tiêu thoát nước cho cả xứ đồng.
- Đối với đất lúa cần tranh thủ độ ẩm trong đất sau khi thu hoạch, khẩn trương cày úp đất thành từng luống và gieo hạt ngô ngay.
2. Giống
- Chọn giống:
Sử dụng các giống ngô sinh khối năng suất cao, sinh trưởng khỏe, chống chịu sâu bệnh tốt như NK7328Bt/GT, NK7328, TQ519, DK6919S, SSC557... Hạt giống đảm bảo chất lượng theo quy định, tỷ lệ nảy mầm cao (>90%), không bị sâu bệnh, có nguồn gốc rõ ràng
- Lượng giống: 25-28 kg/ha (1,25-1,4kg/sào 500m2)
3. Thời vụ
Cây ngô có thể bố trí thời vụ quanh năm, tuỳ theo công thức canh tác và thời gian sinh trưởng của từng giống để bố trí thời vụ hợp lý. Tuy nhiên cần tính toán thời gian ngô trổ cờ, tung phấn, phun râu tránh vào thời điểm thường xảy ra thời tiết bất lợi, nhất là gió Lào khô nóng hoạt động mạnh.
4. Làm đất
Đất trồng ngô không cần cày bừa kỹ, tránh làm mất kết cấu của đất, khó thoát nước và thiếu không khí. Bên cạnh các phương pháp làm đất thông thường, có thể áp dụng phương pháp làm đất tối thiểu như sau:
Cày lật úp đất vào giữa thành từng luống rộng 1,2m (5 đường cày bằng trâu bò hoặc 2 đường cày bằng máy úp vào nhau), cao 25-30cm, rãnh rộng khoảng 20cm. Đào hốc thành 2 hàng/luống (hàng cách hàng 60cm, hốc cách hốc 18-20cm) băm nhỏ đất kết hợp với bón lót, lấp phân bằng lớp đất mỏng, sau đó gieo hạt.
Đối với vụ hè-thu, ngay sau khi thu hoạch lúa đông-xuân xong, tiến hành làm đất ngay để tận dụng độ ẩm trong đất.
5. Gieo hạt
- Xử lý hạt giống trước khi gieo: Ngâm nước lạnh 2-3 giờ, sau đó ủ khăn ấm 20-24 giờ để tăng tỷ lệ nảy mầm.
Kỹ thuật gieo: Rạch rãnh sâu 2-3 cm, bón lót và phủ lớp đất mỏng trước khi đặt hạt để tránh xót phân.
- Cách gieo hạt: Gieo theo hốc, mỗi hốc gieo 1 hạt, nếu có thể, đặt hướng nhú mỏ quạ xuống phía dưới và theo một hướng để tán lá không đan xen vào nhau nhằm tận dụng tối đa ánh sáng. Độ sâu gieo hạt 3-5 cm, sau đó lấp hạt bằng đất bột mịn. Ngoài ra có thể làm bầu hoặc gieo hạt ở một góc ruộng để dặm bổ sung.
- Khoảng cách: hàng x hàng 60cm, cây x cây 18-20cm.
6. Phân bón
- Lượng bón
- Cách bón
- Bón lót: 100% phân chuồng + 100% phân lân + 20% đạm + 20% kali clorua
- Bón thúc lần 1 (khi ngô 3-4 lá): 40% phân đạm + 40% kali kết hợp xới xáo phá váng. Nếu đất đủ ẩm có thể bón trực tiếp vào đất, cách gốc cây ngô 5-7 cm, rồi kết hợp vun nhẹ để lấp phân quanh gốc ngô; nếu đất khô
- Bón thúc lần 2 khi ngô 7-9 lá: 40% phân đạm + 40% kali kết hợp làm cỏ vun cao gốc.
Trường hợp sử dụng phân bón tổng hợp NPK, có thể chọn loại phân và lượng bón để đạt mức bón tương đương.
Lưu ý: Khi bón lót lấp 1 lớp đất mỏng rồi mới gieo hạt, sau khi bón xong phải lấp đất. Không nên bón phân khi đất quá khô hoặc quá ẩm. Không bón sát gốc, cần cách gốc 5-7cm để tránh sót rễ hoặc cháy lá.
7. Chăm sóc
- Thoát nước, tưới nước:
+ Thời kỳ cây con, trước trổ cờ và sau trổ cờ, sau các đợt bón phân cần tưới đủ ẩm để cây phát triển, kết hạt tốt.
+ Cần phải đảm bảo thoát nước tốt, tuyệt đối không được để ruộng ngô bị ngập úng hoặc bị đọng nước trên mặt luống.
- Tỉa dặm: Một tuần sau gieo cần kiểm tra các cây chết hoặc hạt không nảy mầm để dặm lại kịp thời bằng hạt ngô đã ủ cho nứt nanh.
8. Phòng trừ sâu bệnh
Các loại sâu bệnh hại ngô thường gặp là: Sâu xám, sâu đục thân, đục quả, rệp cờ, bệnh khô vằn, bệnh đốm lá, bệnh gỉ sắt ...
Để phòng trừ sâu bệnh hại ngô cần phải chú ý:
- Thực hiện chế độ bón phân cân đối, sử dụng hạt giống sạch bệnh và nên xử lý hạt giống trước khi gieo, theo dõi phát hiện sâu bệnh sớm để có biện pháp phòng trừ thích hợp, hiệu quả.
- Liều lượng, nồng độ và biện pháp sử dụng theo sự hướng dẫn của cán bộ BVTV và hướng dẫn trên nhãn mác của mỗi loại thuốc BVTV.
9. Thu hoạch: Thu hoạch khi hạt ở giai đoạn chín sáp.
Sâu cuốn lá nhỏ xuất hiện trên lúa hè-thu 2026, cần chủ động kiểm tra và phòng trừ kịp thời
Hiện nay, toàn tỉnh đã gieo cấy khoảng 36.500 ha lúa vụ hè-thu năm 2026. Lúa trà đầu và trà chính vụ đang trong giai đoạn đẻ nhánh, các địa phương đang tập trung chăm sóc, bón thúc và tỉa dặm. Nhìn chung, cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt.
Tuy nhiên, thời gian qua, thời tiết nắng nóng xen kẽ mưa rào và dông đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều đối tượng sinh vật gây hại phát sinh, trong đó đáng chú ý là sâu cuốn lá nhỏ. Theo kết quả điều tra của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, tính đến ngày 19/6/2026, sâu cuốn lá nhỏ đã gây hại trên 247 ha lúa, mật độ phổ biến từ 10-15 con/m², nơi cao 20-30 con/m², sâu chủ yếu ở tuổi 1-2 và phân bố tập trung tại các xã phía Bắc tỉnh như Quảng Trạch, Tân Mỹ, Tân Gianh, Ba Đồn, Nam Ba Đồn, Bố Trạch, Sen Ngư và một số địa phương khác.
Dự báo trong thời gian tới, thời tiết tiếp tục duy trì nền nhiệt cao, lúa đang trong giai đoạn sinh trưởng mạnh sau bón thúc nên rất thuận lợi cho sâu cuốn lá nhỏ phát sinh, gia tăng mật độ và có nguy cơ gây hại nặng nếu không được phát hiện, phòng trừ kịp thời. Đặc biệt, nếu để sâu phát triển kéo dài sẽ ảnh hưởng lớn đến khả năng quang hợp của cây lúa, làm giảm sinh trưởng và năng suất, nhất là khi lúa bước vào giai đoạn làm đòng.
Để hạn chế thấp nhất thiệt hại do sâu cuốn lá nhỏ gây ra, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đề nghị UBND các xã, phường tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân thường xuyên thăm đồng, kiểm tra đồng ruộng nhằm phát hiện sớm và chủ động phòng trừ hiệu quả.
Hiện nay, sâu chủ yếu đang ở giai đoạn tuổi 1-2, đây là thời điểm sâu non rất mẫn cảm với thuốc bảo vệ thực vật, việc phòng trừ sẽ đạt hiệu quả cao nhất. Nông dân cần tập trung theo dõi những ruộng xanh tốt, bón thừa đạm hoặc những diện tích đã xuất hiện mật độ sâu cao. Khi mật độ sâu đạt từ 20-30 con/m² trở lên, tiến hành phun trừ bằng các loại thuốc bảo vệ thực vật có chứa một trong các hoạt chất như Isocycloseram, Indoxacarb, Chlorfenapyr, Nereistoxin… theo hướng dẫn trên nhãn thuốc.
Trong quá trình sử dụng thuốc cần tuân thủ nguyên tắc “4 đúng”; pha đủ lượng nước từ 20 - 25 lít cho 500 m²; đồng thời thu gom bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng đúng quy định để bảo vệ môi trường. Đối với những ruộng sâu đã lớn tuổi, đã cuốn lá, cần ưu tiên sử dụng các loại thuốc có tính nội hấp, lưu dẫn để nâng cao hiệu quả phòng trừ.
Sau khi phun thuốc từ 5-7 ngày, cần chăm sóc giúp cây lúa phục hồi nhanh bằng cách bón thúc bổ sung, đặc biệt đối với những ruộng bị hại nặng. Nên sử dụng các loại phân bón có hàm lượng đạm thấp, tăng cường kali và các chất trung, vi lượng nhằm giúp cây lúa sinh trưởng khỏe, cứng cây, tăng khả năng đẻ nhánh và chống đổ ngã.
Bên cạnh đó, người dân cần tiếp tục thường xuyên kiểm tra đồng ruộng để phát hiện sớm các đối tượng sinh vật gây hại khác có khả năng phát sinh trong giai đoạn này như chuột, rầy nâu, rầy lưng trắng, nhện gié… nhằm chủ động áp dụng các biện pháp phòng trừ kịp thời, hiệu quả, góp phần bảo vệ sản xuất vụ hè-thu 2026 đạt năng suất và sản lượng cao.